Hút mỡ mặt: Downtime
- Tổng quan về downtime
- Diễn biến từ ngày thực hiện đến khi hoàn thiện
- Các triệu chứng thường gặp
- Khi nào có thể làm gì? (Hạn chế trong sinh hoạt)
- Đau và gây tê, gây mê
- Mẹo giúp hồi phục nhanh hơn
- Rủi ro, tác dụng phụ (nói thẳng)
- Khoảng cách và kết hợp với các liệu trình khác
- Phù hợp với ai / Ai nên cân nhắc kỹ
- Câu hỏi thường gặp
Tổng quan về downtime
Phần lớn sưng, phù nề giảm sau 1–2 tuần, bầm tím cũng khoảng 1–2 tuần; ngay sau thực hiện thường cần băng ép cố định vài ngày đến 1 tuần.
Downtime tham khảo là Mốc tham khảo là 1–2 tuần (sưng mạnh và cố định chủ yếu trong 3–7 ngày đầu; đường nét ổn định hẳn cần khoảng 3–6 tháng. Có sự khác biệt tùy người); thời điểm có thể xuất hiện trước mọi người thường là Công việc bàn giấy thường có thể trở lại từ khoảng ngày 3–7 sau khi tháo băng ép. Với công việc tiếp xúc khách hàng hoặc xuất hiện trước đám đông, do sưng và bầm tím dễ lộ, nhiều người thấy an tâm hơn khi dự trù khoảng 1–2 tuần. Vì hồi phục có sự khác biệt tùy người, hãy theo dõi diễn biến và trao đổi với bác sĩ về thời điểm quay lại làm việc.. Mức độ sưng và bầm tím khác nhau tùy cơ địa và phạm vi thực hiện.
Diễn biến từ ngày thực hiện đến khi hoàn thiện
Thường được băng ép cố định (băng đai mặt, v.v.) ngay sau phẫu thuật. Khi thuốc tê hết tác dụng, cơn đau và sưng bắt đầu xuất hiện. Có thể rỉ chút máu hoặc dịch gây tê. Nên kê cao đầu và nghỉ ngơi. Trong ngày tránh lái xe hoặc đi xe đạp, có người đi cùng sẽ an tâm hơn.
Đây là giai đoạn sưng, phù nề thường đạt đỉnh. Mặt căng và có thể khó mở miệng. Bầm tím bắt đầu xuất hiện, cơn đau cũng dễ tăng nhưng phần lớn kiểm soát được bằng thuốc giảm đau được kê. Có thể được hướng dẫn chườm lạnh, nhưng cách làm và thời gian cần theo chỉ định.
Nhiều người bắt đầu qua đỉnh sưng ở giai đoạn này. Băng ép thường vẫn tiếp tục đến lúc này, thời điểm tháo theo chỉ định. Màu bầm tím có thể bắt đầu chuyển từ tím xanh sang vàng.
Thường là lúc tháo băng ép và cắt chỉ nếu không dùng chỉ tự tiêu. Sưng đã giảm khá nhiều, nhưng phù nề hoặc bầm tím có thể còn sót lại. Nhiều người dễ ra ngoài hơn nếu che bằng khẩu trang hoặc trang điểm.
Bầm tím thường gần như không còn thấy rõ, sưng lớn cũng đã giảm ở nhiều người. Việc xuất hiện trước đám đông trở nên khả thi hơn, nhưng có thể vẫn còn phù nhẹ hoặc cứng.
Nhiều người bắt đầu cảm nhận được sự thay đổi ở đường nét. Cảm giác cứng hoặc căng tạm thời có thể vẫn còn, nhưng ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày gần như không còn.
Đây là mốc tham khảo khi phù nề và co rút mô đã ổn định, da săn lại và đường nét đã định hình. Việc đánh giá kết quả cuối cùng nên thực hiện vào thời điểm này. Diễn biến và kết quả có sự khác biệt tùy người.
Thanh biểu thị mức độ sưng mang tính tham khảo (có sự khác biệt tùy từng người).
Các triệu chứng thường gặp
| Triệu chứng | Tần suất | Thời điểm xuất hiện | Thời gian kéo dài | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Sưng, phù nề | Cao | Ngay trong ngày đến hôm sau | Sưng mạnh khoảng 3–7 ngày, giảm rõ sau 1–2 tuần (phù nề hết hoàn toàn có thể mất 1–3 tháng) | Có thể cảm thấy toàn mặt căng phồng, đường nét tạm thời trông to hơn. Mức độ khác nhau tùy người. |
| Bầm tím (vết tím xanh) | Cao | Khoảng hôm sau đến ngày thứ 3 | Khoảng 1–2 tuần | Có thể xuất hiện vết bầm vàng đến tím xanh ở dưới cằm, cổ, đường viền hàm. Có thể lan xuống phía dưới do trọng lực. |
| Đau, cảm giác khó chịu, căng cứng | Cao | Ngay trong ngày | Đau mạnh vài ngày; đau âm ỉ hoặc cảm giác căng có thể kéo dài 1–3 tuần | Dễ cảm thấy căng khi mở miệng, nhai hoặc cười. |
| Cứng, cục cứng (co rút mô) | Trung bình | Khoảng tuần 2–4 | Vài tuần đến vài tháng | Có thể tạm thời cảm thấy cứng trong quá trình da co lại bên trong. Đa số sẽ mềm dần theo thời gian. |
| Gồ ghề, chênh lệch bề mặt da | Trung bình | Khoảng tuần 2 đến 1 tháng | Vài tuần đến vài tháng | Dễ xuất hiện tạm thời trong quá trình phù nề giảm dần, thường sẽ mịn dần theo thời gian, nhưng nếu lo lắng hãy hỏi bác sĩ. |
| Giảm cảm giác, tê bì | Trung bình | Ngay trong ngày đến vài ngày sau | Vài tuần đến vài tháng | Cảm giác da vùng hút mỡ có thể tạm thời giảm sút. Đa số hồi phục dần, nếu kéo dài nên đi khám. |
| Sẹo (vị trí đưa ống hút) | Trung bình | Ngay trong ngày | Vết đỏ thường mờ dần sau vài tuần đến vài tháng | Thường là vết rạch nhỏ ở vị trí kín đáo như dưới cằm hoặc trong khoang miệng. |
Khi nào có thể làm gì? (Hạn chế trong sinh hoạt)
| Hạng mục | Thời điểm có thể trở lại | Điểm lưu ý |
|---|---|---|
| Trang điểm | Nhiều trường hợp có thể trang điểm từ hôm sau đến vài ngày sau nếu tránh vết thương, vị trí đưa ống hút | Tránh trang điểm lên vị trí vết rạch cho đến khi có chỉ định (ví dụ sau cắt chỉ). Có thể dùng kem nền hoặc che khuyết điểm để che bầm tím. |
| Rửa mặt | Từ hôm sau (nhẹ nhàng, không chà xát) | Trong ngày cần tuân theo chỉ định để tránh làm ướt băng ép hoặc vết thương. |
| Tắm vòi sen | Từ hôm sau có thể tắm phần từ cổ trở xuống; toàn thân bao gồm gội đầu, rửa mặt thì mốc tham khảo là sau khi tháo băng ép | Trong thời gian băng ép cần chú ý không làm ướt. Cụ thể có thể thực hiện hay không xin tuân theo chỉ định. |
| Tắm bồn | Mốc tham khảo là khoảng 1 tuần sau, sau khi cắt chỉ | Vì lưu thông máu tăng có thể làm sưng nặng hơn, nên tránh trong giai đoạn đầu. |
| Uống rượu bia | Mốc tham khảo là khoảng 1 tuần sau | Vì lưu lượng máu tăng dễ làm sưng, bầm tím nặng hơn, nên hạn chế trong giai đoạn đầu. |
| Vận động (nhẹ) | Mốc tham khảo là khoảng 2 tuần sau, bắt đầu nhẹ nhàng | Vận động gây đổ mồ hôi hoặc tăng huyết áp có thể làm sưng nặng hơn. |
| Vận động mạnh, tập tạ | Mốc tham khảo là khoảng 3–4 tuần sau, tăng dần từng bước | Các động tác rặn hoặc dùng lực ở mặt nên vừa theo dõi vừa nối lại. |
| Xông hơi, tắm đá nóng | Mốc tham khảo là khoảng 3–4 tuần sau | Nhiệt độ cao, đổ mồ hôi kéo dài có thể làm sưng lâu hơn nên cần tránh. |
| Băng ép cố định (băng đai mặt) | Đeo trong thời gian được chỉ định (khoảng vài ngày đến 1 tuần, sau đó có thể kéo dài chỉ đeo ban đêm) | Được cho là giúp sưng giảm nhanh hơn và ổn định đường viền mặt. Thời gian đeo xin tuân theo chỉ định. |
| Nằm sấp, nằm nghiêng khi ngủ | Mốc tham khảo là nằm ngửa, kê cao đầu cho đến khoảng 2 tuần sau | Giúp tránh chèn ép và ứ huyết ở mặt, được cho là có ích trong việc giảm phù nề. |
| Điều trị nha khoa, thủ thuật cần mở miệng lớn | Nên trao đổi từ khoảng 2–3 tuần sau trở đi | Vì có thể gây áp lực lên vùng dưới cằm, quanh má, nếu có thể nên dời lịch để an tâm hơn. |
Đau và gây tê, gây mê
Mức độ đau tham khảo là Vừa phải. Thường kết hợp gây tê tại chỗ với gây mê tĩnh mạch (an thần). Phương pháp gây tê khác nhau tùy phạm vi hút mỡ, nguyện vọng của người thực hiện và tình trạng cơ thể, do bác sĩ phụ trách quyết định. Trong khi phẫu thuật, nhờ tác dụng của thuốc tê nên cơn đau thường được kiểm soát. Khoảng 2–3 ngày sau phẫu thuật dễ xuất hiện đau âm ỉ do sưng, hoặc căng khi mở miệng, nhai, nhưng phần lớn có thể kiểm soát bằng thuốc giảm đau được kê. Sau khoảng 1 tuần, cơn đau trong sinh hoạt hằng ngày thường giảm bớt ở nhiều người, tuy cảm nhận có sự khác biệt tùy người.
Mẹo giúp hồi phục nhanh hơn
- Đeo băng ép cố định đầy đủ trong thời gian được chỉ định (được cho là liên quan đến cả việc giảm sưng nhanh và ổn định đường viền mặt)
- Khi ngủ, kê cao gối để đầu cao hơn tim, tránh để phù nề tích tụ
- Nếu được chỉ định chườm lạnh hay chườm ấm, hãy thực hiện đúng thời điểm, cách làm và thời gian theo hướng dẫn, không tự ý quyết định
- Hạn chế muối, rượu bia, uống nước đều đặn để không làm phù nề nặng thêm
- Tránh tắm nước nóng, xông hơi, vận động mạnh và các hoạt động thúc đẩy lưu thông máu mạnh trong giai đoạn đầu
- Bỏ hút thuốc (hút thuốc cản trở lưu thông máu, có thể làm chậm quá trình hồi phục)
- Uống thuốc theo đúng chỉ định, ưu tiên nghỉ ngơi và tránh cử động mạnh ở mặt
- Nếu có triệu chứng đáng lo hoặc sưng, đau kéo dài mạnh, đừng tự phán đoán mà hãy sớm liên hệ bác sĩ phụ trách
Rủi ro, tác dụng phụ (nói thẳng)
- Lệch hai bên, hút không đều, gồ ghề: Nếu mức lấy mỡ không đồng đều, đường nét có thể bị bất đối xứng hoặc để lại chênh lệch trên bề mặt.
- Hóp má, chảy xệ do lấy quá nhiều mỡ: Nếu lấy mỡ quá mức, má có thể bị hóp hoặc da chảy xệ làm thay đổi vẻ ngoài.
- Da chảy xệ: Nếu vốn đã có tình trạng da lỏng lẻo, việc giảm mỡ có thể khiến chảy xệ lộ rõ hơn.
- Giảm cảm giác, tê bì: Thường chỉ tạm thời, nhưng hiếm khi có thể kéo dài.
- Bầm tím, tụ máu, phù nề kéo dài: Thường tự cải thiện, nhưng hiếm khi cần xử lý thêm.
- Nhiễm trùng, sẹo: Tần suất được cho là thấp, nhưng nếu đỏ, sưng, đau tăng nặng cần đi khám.
- Cứng, co rút mô: Thường chỉ tạm thời, nếu lo lắng hãy trao đổi với bác sĩ.
- Rủi ro liên quan đến gây tê, an thần: Tùy thể trạng và bệnh nền, có thể xảy ra biến đổi sức khỏe liên quan đến gây tê.
- Hiệu quả, diễn biến và mức độ rủi ro có sự khác biệt tùy người, mức thay đổi khác nhau tùy lượng mỡ và tình trạng da. Nếu có triệu chứng lo ngại hay bất an, đừng tự phán đoán mà hãy trao đổi với bác sĩ phụ trách.
Khoảng cách và kết hợp với các liệu trình khác
Nếu có sự kiện quan trọng như đám cưới hay chụp ảnh, nhiều người thấy an tâm hơn khi thực hiện ít nhất 1 tháng trước, tốt nhất là trước 3 tháng khi đường nét đã ổn định, để sưng, bầm tím, phù nề kịp giảm hẳn. Vì hồi phục có sự khác biệt tùy người, nên trao đổi với bác sĩ để lên lịch trình an tâm hơn. Việc thực hiện lại ở cùng vùng thường được cân nhắc sau khoảng 6 tháng trở đi, khi phù nề và co rút mô đã ổn định, kết quả đã định hình. Vì lượng mỡ còn lại thường ít, khả năng chỉnh sửa cần đánh giá thận trọng và do bác sĩ quyết định cuối cùng.
| Liệu trình kết hợp | Thời điểm | Khoảng cách cần chờ | Lý do |
|---|---|---|---|
| Tiêm Botox (cơ hàm, cằm) | Cần cách quãng | Mốc tham khảo là sau 2–4 tuần khi sưng đã ổn định | Nếu thực hiện cùng ngày, sưng sẽ gây khó khăn khi đánh giá vị trí tiêm và hiệu quả, nên thường thực hiện sau khi đường nét đã ổn định. |
| Tiêm filler HA (cằm, đường viền hàm) | Cần cách quãng | Mốc tham khảo là sau khoảng 1 tháng khi sưng, phù nề đã giảm | Nếu tiêm trước khi đường nét sau hút mỡ đã xác định, thiết kế kết quả có thể bị lệch, nên nên thực hiện sau khi đường nét đã ổn định. |
| Căng chỉ, điều trị chảy xệ | Cần cách quãng | Nên cách khoảng 3–6 tháng và theo dõi diễn biến trước | Nên xác nhận xem có xuất hiện chảy xệ sau hút mỡ hay không, rồi mới cân nhắc kéo nâng nếu cần. Việc thực hiện đồng thời hay không tùy vào phán đoán của bác sĩ. |
| HIFU (sóng siêu âm hội tụ), laser, v.v. để săn chắc da | Cần cách quãng | Mốc tham khảo là sau 2–4 tuần khi sưng, bầm tím đã giảm | Kích thích nhiệt lên vùng da còn sưng sau phẫu thuật sẽ gây gánh nặng lớn, và trong giai đoạn co rút mô cũng khó đánh giá kết quả, nên thường thực hiện sau khi đã ổn định. |
| Cấy mỡ tự thân vùng mặt (ghép mỡ đã hút sang vùng khác) | Có thể cùng ngày | Có trường hợp được thiết kế như một ca phẫu thuật duy nhất, ví dụ cấy ghép mỡ đã hút sang vùng khác. Việc thực hiện đồng thời hay không sẽ do bác sĩ quyết định dựa trên phạm vi và gánh nặng cho cơ thể. |
Phù hợp với ai / Ai nên cân nhắc kỹ
Phù hợp
- Người muốn làm gọn đường viền mặt do mỡ ở má hoặc dưới cằm, cằm đôi
- Người muốn giảm phần mỡ cục bộ khó giảm bằng ăn kiêng
- Người có thể sắp xếp kỳ nghỉ dài (khoảng 1–2 tuần)
- Người có thể tuân thủ các chỉ định về downtime như băng ép, hạn chế sinh hoạt
- Người muốn cân nhắc sau khi hiểu rõ các rủi ro có thể xảy ra và sự khác biệt cá nhân trong diễn biến
Nên cân nhắc kỹ
- Người có tình trạng da chảy xệ rõ (giảm mỡ có thể làm chảy xệ lộ rõ hơn, có thể cần cân nhắc điều trị kéo nâng)
- Người mắc bệnh lý khó cầm máu, hoặc đang dùng thuốc làm loãng máu mà khó tạm ngưng
- Người có bệnh lý nặng hoặc bệnh toàn thân chưa được kiểm soát tốt
- Người đang mang thai hoặc cho con bú
- Người không thể sắp xếp thời gian nghỉ và hạn chế sinh hoạt trong downtime
- Người kỳ vọng thay đổi quá mức, khó chấp nhận giải thích thực tế về kết quả và rủi ro